nghị luận văn học tây tiến
- "Tây Tiến" là dấu ấn của thời đại bi thương nhưng bi tráng, hào hùng. - Vẻ đẹp ấy không chỉ của riêng "Tây Tiến" mà là gương mặt chung của tuổi trẻ Việt Nam trong các cuộc vệ quốc vĩ đại. Đề 2 Nhận định về niềm khát khao tận hưởng sự sống trong bài thơ "Vội Vàng" của Xuân Diệu, từng có ý kiến cho rằng: đó là tiếng nói của cái tôi vị kỉ tiêu cực.
Trong số đó không thể kể đến Tây Tiến của Quang Dũng - một tác phẩm đã đi vào lòng người, bởi ở đó Quang Dũng đã khắc họa được bức tượng đài về anh bộ đội cụ Hồ những năm kháng chiến chống Pháp: hào hoa, lãng mạn, bi tráng, đậm chất thơ "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc…Sông Mã gầm lên khúc độc hành". Mở bài 14 về bài thơ Tây Tiến
Văn học đời Tây Sơn Văn học thời Nguyễn Văn Trong giai đoạn này, một số tác giả nổi tiếng của dòng văn học hiện thực phê phán như Ngô Tất T Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc Hội nghị tổ chức trong các ngày từ 25 đến 28 tháng 9 năm 1949 nhằm mục đích
Vay Tiền Online Cấp Tốc 24 24. SỞ GD&ĐT TUYÊN QUANG TRƯỜNG THPT XUÂN HUY ĐỀ THI THỬ LẦN 2 THPT QUỐC GIA NĂM 2019 MÔN NGỮ VĂN 12 Thời gian làm bài 120 phút, không kể thời gian giao đề MỤC ĐÍCH KIỂM TRA Kiểm tra mức độ đạt chuẩn KTKN trong chương trình môn Ngữ văn lớp 12 sau khi HS học xong học kỳ II, cụ thể Về kiến thức theo chuẩn KTKN của chương trình – Kiểm tra kiến thức đã học để đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. – Kiểm tra, đánh giá về kiến thức nghị luận văn học Về kỹ năng theo chuẩn KTKN của chương trình – Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. – Vận dụng kiến thức, kĩ năng về nghị luận xã hội để viết đoạn văn nghị luận xã hội. – Vận dụng kiến thức, kĩ năng phân tích văn học để viết bài văn nghị luận văn học. Về thái độ theo chuẩn KTKN của chương trình – Nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc hiểu văn bản và phân tích tác phẩm văn học, từ đó có ý thức và thái độ học tập tích cực, sáng tạo. II/ HÌNH THỨC KIỂM TRA Đề kiểm tra tự luận, thời gian 120 phút Học sinh làm bài ở lớp III/ MA TRẬN Cấp độ ND CHỦ ĐỀ Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng Cấp độ thấp Cấp độ cao Đọc hiểu Nhận biết nội dung văn bản Hiểu được nội dung, ý nghĩa của VB Số câu 4 câu 4 câu Tỉ lệ 40% = 4 điểm 40%=4 điểm Làm văn Nghị luận xã hội Nhận biết kiểu bài nghị luận xã hội. Hiểu được vấn đề nghị luận xã hội. Vận dụng kiến thức kĩ năng về nghị luận xã hội viết đoạn văn nghị luận xã hội. Số câu 01 01 câu Tỉ lệ 20% =2,0 20%=2 điểm Làm văn Nghị luận văn học Nhận biết kiểu bài nghị luận văn học Hiểu được vấn đề nghị luận văn học Vận dụng kiến thức, kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học Số câu 1 câu 1 câu Tỉ lệ 50% = 5 điểm 50%= 5điểm Tổng số câu 6 câu 6 câu Tổng tỉ lệ 100% = 10 điểm 100 %=10 điểm IV/ Nội dung đề kiểm tra TRƯỜNG THPT XUÂN HUY ———- Họ và tên …………………………….. Phòng ……………SBD………………… ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019 MÔN NGỮ VĂN Thời gian 120 phút Không kể thời gian giao đề Đề kiểm tra có 01 trang ĐỌC HIỂU 3,0 điểm Đọc đoạn văn bản sau đây và thực hiện các yêu cầu Rất nhiều người đều có tâm lí ăn may. Ở người mắc bệnh trì hoãn thì dạng tâm lí này càng phổ biến. Họ luôn cho rằng trì hoãn công việc chẳng có gì là ghê gớm, mà không biết rằng rất có khả năng tới cuối cùng sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Tại sao mọi người lại luôn có tâm lí ăn may? Về mặt lí thuyết, tâm lí ăn may là một dạng phản ứng bản năng của con người. Khi người ta gặp phải các loại thiên tai hoặc nguy hiểm, nếu họ có ý thức một cách rõ ràng rằng khả năng sống sót của mình là bằng không thì trong trạng thái ấy hệ thống tinh thần của con người sẽ sụp đổ. Vì vậy, những lúc như thế này hệ thống tự bảo vệ của con người sẽ khởi động. Đại não sẽ phát ra mệnh lệnh “Nhất định sẽ có cơ hội thoát ra ngoài, nhất định sẽ sống sót” giúp người ta dựa vào sức mạnh để kiên trì, từ đó có cơ hội sống sót… Rất nhiều người khi qua đường rõ ràng thấy đèn đỏ nhưng vẫn sải bước về phía trước. Thứ dung túng cho họ thực hiện hành vi vượt đèn đỏ chính là tâm lí ăn may. Họ cho rằng vượt đèn đỏ cũng không xui xẻo đến mức bị tai nạn giao thông. Nhưng thực tế hầu như những người bị tai nạn giao thông khi ấy đều có suy nghĩ như vậy. Không chỉ chuyện qua đường, những hậu quả nặng nề hoặc thậm chí ươm mầm đại họa do tâm lí ăn may gây ra trong cuộc sống của chúng ta nhiều không kể xiết. Con người luôn dễ dàng tin rằng, bi kịch chỉ xảy ra với người khác, cách mình còn rất xa. Chính tâm lí ấy khiến người ta coi thường dù chỉ là 1% khả năng xảy ra của bi kịch, nhưng đối với người mang tâm lí đó thì 1% cũng đồng nghĩa với 100%. Vì vậy, các bạn mắc bệnh trì hoãn, muốn thoát khỏi trì hoãn, ngàn vạn lần đừng mang tâm lí ăn may. Trích Tuổi trẻ không trì hoãn trang 234, Thần Cách Theo tác giả, trong trường hợp cấp bách, hệ thống tự bảo vệ của con người khởi động có tác dụng gì? Anh, chị hiểu thế nào là tâm lí ăn may? Theo anh, chị tại sao mọi người lại luôn có tâm lí ăn may? Anh, chị có đồng ý với quan điểm của tác giả Không chỉ chuyện qua đường, những hậu quả nặng nề hoặc thậm chí ươm mầm đại họa do tâm lí ăn may gây ra trong cuộc sống của chúng ta nhiều không kể xiết. Vì sao? Hãy kể một số việc cụ thể để chứng minh cho ý kiến của anh chị. LÀM VĂN 7,0 điểm Câu 1 2,0 điểm Hãy viết 01 đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến Muốn thoát khỏi trì hoãn đừng mang tâm lí ăn may trong phần Đọc hiểu. Câu 2 5,0 điểm Trong bài thơ Tây Tiến, tác giả Quang Dũng đã miêu tả con đường hành quân của người chiến sĩ 1 Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi 2 Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Trích Tây Tiến, SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXB GD, 2018 Anh/ chị hãy cảm nhận hai đoạn thơ trên để thấy được bức tranh thiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, trữ tình. – Hết- HƯỚNG DẪN CHẤM, THANG ĐIỂM Phần Câu Nội dung Điểm I Đọc hiểu 3,0 1 Theo tác giả, trong trường hợp cấp bách, hệ thống tự bảo vệ của con người khởi động có tác dụng tạo ra sức mạnh tinh thần để kiên trì, con người có cơ hội sống sót. 0, 5 2 HS có thể trả lời theo nhiều cách khác miễn là hợp lí. Tâm lí ăn may là tâm lí/thói quen luôn nghĩ đến/trông chờ sự may mắn chứ không có sự nỗ lực của bản thân 0,5 3 HS trả lời theo quan điểm riêng miễn là hợp lí. Gợi ý Mọi người luôn có tâm lí ăn may bởi vì – Để hóa giải những lo âu của bản thân/để an ủi bản thân khi gặp phải những áp lực, nguy hiểm, khó khăn … – Bao biện cho những hành vi/thái độ/ hành động sai trái … – Trông chờ, ỷ lại, không có sự nỗ lực, chủ động của bản thân… 1,0 4 Học sinh có thể đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với quan điểm Không chỉ chuyện qua đường, những hậu quả nặng nề hoặc thậm chí ươm mầm đại họa do tâm lí ăn may gây ra trong cuộc sống của chúng ta nhiều không kể xiết. có sự lí giải, dẫn chứng hợp lí 1,0 II Làm văn 7,0 1 2,0 a. Đảm bảo yêu cầu hình thức về đoạn văn Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 0,25 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Muốn thoát khỏi trì hoãn đừng mang tâm lí ăn may 0,25 c. Triển khai vấn đề nghị luận Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần phải làm rõ – Giải thích + Trì hoãn là thói quen có xu hướng chậm lại/hoãn lại/ chưa muốn bắt tay vào làm ngay /chờ một thời gian nào đó mới hoàn thành công việc. + ăn may là trông chờ sự may mắn … -> Muốn thoát khỏi thói quen hoãn lại/ chậm lại một công việc nào đó cần từ bỏ sự trông chờ vào may mắn – Bàn luận ý nghĩa Tại sao muốn thoát khỏi trì hoãn đừng mang tâm lí ăn may + Khi mang tâm lí ăn may con người sẽ chỉ ổn định về tinh thần trong chốc lát. + Không đối diện với những khó khăn, thử thách, không lường trước được những hậu quả, thiệt hại do sự trì hoãn bởi mang nặng tâm lí ăn may. + Luôn trong trạng thái trông chờ, ỷ lại, bị động… + Trở nên lười biếng, thiếu ý chí và nghị lực, không có quyết tâm, thiếu sự chú tâm, tập trung trong công việc, không có tham vọng thiếu chí tiến thủ. – Đánh giá, bác bỏ ý kiến đúng ; ca ngợi đối tượng ngược lại – Bài học nhận thức và hành động phù hợp + Về nhận thức hiểu được để có được thành công phải từ bỏ thói quen trì hoãn, trông chờ vào sự may mắn + Về hành động học tập và rèn luyện, chủ động để đi đến thành công. 1,0 d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt 0,25 e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. 0,25 2 5,0 a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề. 0,25 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Cảm nhận về hai đoạn thơ để thấy được bức tranh thiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, trữ tình trên con đường hành quân của những người lính Tây Tiến. 0,5 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm. Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, đảm bảo các yêu cầu sau * Vài nét về tác giả Quang Dũng, bài thơ Tây Tiến, đoạn thơ trong Tây Tiến – Tác giả Quang Dũng là một gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam ngay từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. – Tác phẩm in trong tập Mây đầu ô, sáng tác cuối 1948 tại Phù Lưu Chanh khi tác giả đã rời xa đơn vị Tây Tiến chưa được bao lâu. – Hai đoạn thơ nằm ở đoạn thứ nhất và thứ hai của bài, là bức họa ngôn từ về bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, trữ tình… 0,5 * Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội – Nội dung + Dốc núi miền Tây được miêu tả hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều được khắc họa đồng thời cả sự hiểm trở lẫn vẻ đẹp hùng vĩ, kì thú; mưa rừng cho thấy cả thung lũng mờ mịt như tan loãng trong biển mưa, không gian bỗng như mênh mang, xa vời hơn… + Thiên nhiên cho thấy nỗi khó khăn, gian khổ và lòng dũng cảm, can trường của người lính trên những chặng đường hành quân. – Đặc sắc nghệ thuật Nhiều thanh trắc, các từ láy liên tiếp, hình ảnh độc đáo súng ngửi trời, tiểu đối… * Bức tranh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình – Nội dung + Chiều sương mơ hồ, bảng lảng; hồn lau như biết sẻ chia nỗi niềm với con người; hoa đong đưa như muốn làm duyên làm dáng… Cảnh buồn song chứa chan thi vị. + Thiên nhiên hé mở tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, lãng mạn, giàu mộng mơ của người lính Tây Tiến. – Đặc sắc về nghệ thuật Từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi tả, biểu cảm; chất nhạc và chất thơ hòa quyện; nét vẽ mềm mại, tinh tế… 1,25 1,25 * Đánh giá chung – Cả hai đoạn thơ đều miêu tả thiên nhiên Tây Bắc trên chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến. Thiên nhiên đều được diễn tả thành niềm thương, nỗi nhớ; là phông nền để tôn vinh vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Hai đoạn thơ cũng là dòng cảm xúc chan chứa, tiếc nuối về vẻ đẹp của thiên nhiên trong hoài niệm – Nếu bức tranh núi rừng Tây Bắc ở đoạn thơ thứ nhất là những nét vẽ rắn rỏi, cứng cỏi khắc họa không gian hùng vĩ, dữ dội như thử thách lòng người thì ở đoạn thơ thứ hai lại là những nét vẽ mềm mại, mơ hồ, huyền ảo bởi sương khói và sông nước. Nếu đoạn thơ đầu chủ yếu tác giả sử dụng thanh trắc kết hợp với từ láy khắc họa ấn tượng về độ cao độ và độ sâu của địa hình Tây Bắc thì đoạn thơ thứ hai lại dàn trải đều đều theo những thanh bằng góp phần tô rõ hơn những phẳng lặng, bình yên của sông nước nơi đây. – Hai đoạn thơ minh chứng rõ ràng cho nhận xét Quang Dũng là một nghệ sĩ tài hoa. Sáng tạo của người nghệ sĩ trong nghệ thuật không chỉ không lặp lại người khác mà còn không lặp lại chính mình. 0,5 d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt 0,25 e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. 0,5 TỔNG ĐIỂM 10,0 đề thi thử THPT quốc gia ngữ văn, tây tiến
2/ Tác phẩm a. Hoàn cảnh ra đời bài thơ - Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm. - Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ Tây Tiến tại làng Phù Lưu Chanh một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội. Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”1986 b. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng. II/ CÁC Ý CỤ THỂ 1/ Những cuộc hành quân gian khổ của đòan quân Tây Tiến trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội. - Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết bao trùm cả khộng gian và thời gian. "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! ..................................chơi vơi" - Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén được, nhà thơ thốt lên thành tiếng gọi “TT ơi!”. - Hai chữ “ chơi vơi” vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ da diết, lửng lơ, mênh mang khôn cùng. - Nỗi nhớ ấy khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm...liên tiếp xuất hiện Sài Khao.................... ...........mưa xa khơi” + Đọan thơ này là minh chứng cho câu “ trong thơ có họa”.Tác giả đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng để diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút nhưng cũng khá thơ mộng của địa bàn mà đòan quân TT họat động. Đó là nơi có “sương lấp”, có ”hoa về trong đêm hơi”.Nhưng, nổi bật nhất là những từ ngữ có giá trị tạo hình “khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây súng ngửi trời”. Địa hình ở đây thật hiểm trở, trùng điệp, cao, sâu khôn cùng. + Hai từ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên, tinh nghịch và sáng tạo. Núi cao tưởng như chạm mây, mây tụ lại thành cồn heo hút. Người lính hành quân trong địa hình ấy khác nào đang đi trong mây, nòng súng chạm đỉnh trời! - Câu thơ “ Ngàn......xuống” như bẻ đôi một đường thẳng ra mà gấp khúc lại, nhằm tạo dốc núi lên thì cao vút, xuống thì thẳng đứng. Nó làm ta liên tưởng tới câu thơ trong “Chinh phụ ngâm” Hình khe thế núi gần xa – Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao. - Còn câu “ Nhà ai....khơi” lại giúp ta hình dung cảnh người lính TT dừng chân bên đồi, phóng tầm mắt ra xa, họ thấy trong không gian mịt mù mưa sa có những ngôi nhà thấp thóang ẩn hiện. =>NX Những câu thơ này tạo một sự hài hòa khá đặc biệt. Sau các câu có những từ ngữ gân guốc, trúc trắc là một câu mềm mại tòan thanh bằng. -Trong không gian và thời gian ấy, luôn có những mối đe dọa đáng sợ Chiều chiều.......... ................trêu người.” Từ “chiều chiều”, “đêm đêm” như nhấn mạnh sự thường trực của những âm thanh rùng rợn phát ra từ tiếng thác chảy và tiếng gầm của vị chúa sơn lâm. - Trong những cuộc hành quân qua những vùng hiểm trở, người lính TT phải đối diện với những gian khó nhọc nhằn, thậm chí những hi sinh “đòan quân mỏi”, “không bước nữa”, “bỏ quên đời”. Bằng cảm hứng lãng mạn, nhà thơ đã dùng từ” bỏ quên đời” để chỉ cái chết. Cách nói ấy làm cái chết trở nên thanh thản, nỗi mất mát như vơi đi phần nào. - Tuy nhiên, hai câu kết lại vẽ ra một cảnh tượng thật đầm ấm “Nhớ ôi........ .............thơm nếp xôi” Khói cơm nghi ngút và mùi hương của lúa nếp như xua tan đi những mệt nhọc trên khuôn mặt họ. Nx Trong nỗi nhớ quay quắt của nhà thơ, thiên nhiên núi rừng miền TB nước ta và nước Lào hiện lên thật dữ dội mà thơ mộng, khắc nghiệt và bí hiểm như muốn thử thách ý chí và sức mạnh của con người. Nhưng, dù có mất mát, hi sinh, đòan quân TT đã vượt qua tất cả bằng sự tin tưởng trẻ trung và ý chí kiên cường, sẵn sàng “ đâu có giặc là ta cứ đi” 2/ Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước TB thơ mộng. a/ Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ. “Doanh trại.................. ..........xây hồn thơ.” - Cả doanh trại bừng sáng sôi nổi hẳn lên khi đêm VN bắt đầu. - Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm VN là những cô gái nơi núi rừng bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy. Họ vừa e thẹn vừa tình tứ trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ. Điều đó đã thu hút cả hồn vía những chàng trai TT. - Hai chữ “ kìa em” thể hiện cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên vừa say mê, vui sướng. - Những điệu khèn, điệu nhạc như nâng cánh cho tâm hồn của các chiến sĩ TT “xây hồn thơ”. Họ như đang quên hết thực tại chiến đấu mà thả hồn vào những làn điệu âm nhạc của những người dân Tây Bắc, mà mơ mộng, mà hát ca. => Bằng bút pháp tài hoa, lãng mạn, thi trung hữu nhạc, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp giàu bản sắc văn hoá, phong tục của đồng bào vùng biên giới cùng tình cảm quân dân thắm thiết và tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống của người lính Tây Tiến b/ Cảnh một chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. - Không gian trên dòng sông, cảnh vật Châu Mộc hiện lên thật mờ ảo, thơ mộng nhuốm màu huyền thoại. “ Người đi........... .................nẻo bến bờ” - Cảnh TN thơ mộng, tĩnh lặng, đẹp như cảnh thần tiên cổ tích. Người đi Châu Mộc là ai? Hồn lau nào xào xạc bên bờ? Dáng người nào chèo thuyền? Tất cả chỉ là kí ức được gợi lại. - Cảnh được phủ bởi một màn sương chiều đang dâng lên. Như hòa nhập với cảnh, với người, những bông hoa cũng “đong đưa” làm dáng. 3/ Chân dung người lính TT. - Nếu như các đọan thơ trên chủ yếu nói về thiên nhiên TB, thì đọan thơ thứ ba khắc họa rõ nhất chân dung người lính TT “TT đòan binh.............. ...........độc hành” - Những từ Hán Việt làm tăng vẻ đẹp hào hùng bi tráng của chân người lính. Còn những từ thuần Việt lại cân bằng tính chân thực của c/s hiện thực thời chiến. Điều đó làm bức chân dung tập thể vừa tổng hợp vừa cụ thể chân thực. Đây là đòan quân lạ “không mọc tóc”.Vì họ bị sốt rét làm rụng tóc, hoặc họ cạo trọc tóc để dễ đánh giáp lá cà. Nhưng đó là cái lạ hoá, gân guốc bắt nguồn từ hiện thực đến từng chi tiết. Không mọc tóc » là hậu quả của trận sốt rét rừng. Rồi trải qua nơi rừng thiêng nước độc, gian khổ thiếu thốn, thuốc men không có.. - Câu “ Quân xanh.....hùm” có 2 ý + Tình rạng sức khỏe tồi tệ của họ. Nhiều bài thơ chống Pháp từng nói tới hiện thực này. Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ. Tố Hữu Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt rung người vầng trán ướt mồ hôi” Chính Hữu + Phẩm chất tinh thần phi thường của họ. Nghĩa là sau vẻ bề ngòai xanh gầy của họ tóat ra một nội lực, một khí thế mạnh mẽ, quyết liệt. “Dữ oai hùm” là cách nói cường điệu, lãng mạn. Thiên nhiên và hòan cảnh khắc nghiệt, gian khổ chỉ có thể mài sắc ý chí chiến đấu, chứ không thể bẻ gãy hoặc làm nhụt chí họ. Họ là những chiến binh dũng cảm, đáng gờm đối với kẻ thù. - Vẻ bên ngòai cứng rắn ấy cũng giấu một đời sống nội tâm phong phú, bay bổng , lãng mạn. Hai câu “Mắt trừng..........kiều thơm” tả tâm trạng trằn trọc, nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người thương của họ. Tâm hồn nhọ mang những khao khát đời thừơng như bất cứ chàng trai tuổi đôi mươi nào. Phải yêu cuộc sống và nhiều khao khát thì người lính mới có nhiều khao khát nhớ nhung như vậy. Và biết đâu, những giai nhân đất kinh thành ấy đã động viên, nâng đỡ tinh thần họ trong những lúc gian khó.. - Mạch thơ đang từ bay bổng, đằmn thắm viết về sự sống của người lính bỗng chuyển sang nói về sự hi sinh mất mát. Câu Rải rác biên cương mồ viễn xứ » gồm nhiều từ Hán Việt đã tạo nên âm hưởng trang nghiêm thiêng liêng khi nói về sự hi sinh. Họ là những người đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh » trên chiến trường Tây Bắc. Và cho dù rất yêu cuộc sống, nhưng khi cần, họ cũng biết chết cho Tổ quốc. Câu thơ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh » vang lên âm hưởng tráng sĩ thuở nào, nhưng đó là một tâm trạng có thật của lớp thanh niên ra trận ngày ấy. - Hai câu cuối đọan “ Áo bào...độc hành” nói đến cái chết của họ. + Bút pháp lãng mạn, cảm hứng bi tráng đã giúp tác giả dựng lên cái chết, sự hy sinh oanh liệt của chiến sĩ Tây Tiến. Cụm từ “áo bào”, “thay chiếu” gần giống với điển tích trong thơ văn xưa “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”. Chinh phụ ngâm Họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Nhưng nó cũng phản ánh một sự thật đau lòng người lính Tây Tiến ngã xuống không có một cỗ quan tài, không một tấm chăn, manh chiếu để chôn, khi sống họ mặc như thế nào, khi chết thì chôn như thế. Cách nói “anh về đất” là để giảm bớt sự bi thương, cái chết trở nên nhẹ nhàng. + Sự hi sinh lớn lao anh dũng ấy hẳn là xứng đáng lãnh nhận một nghi lễ đưa tiễn hào hùng của sông núi đất trời này. Sông Mã như thay mặt TQ tiễn những người con ưu tú của mình về với đất bằng “khúc độc hành” sôi sục, bi tráng, rắn rỏi , vững vàng. Nx Nội dung Cái chết, sự hi sinh của người lính TT không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Nghệ thuật giọng điệu trang trọng, bút pháp lãng mạn, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của tg trước sự hi sinh của đồng đội. 4/ Lời thề gắn bó với TT. "Tây Tiến người . .... chẳng về xuôi" - Tinh thần “một đi không trở lại” thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của họ. -Đó là lời thề của họ sau khi đã hòan thành nhiệm vụ, trở về với đất nước quê hương; thề với những đồng đội đã hi sinh, thề với lòng mình, với quá khứ hào hùng. - TT trở thành một phần trong tâm hồn của các anh. Cách nói “người đi không hẹn ước”, hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, mùa xuân chia phôi thăn thẳm..chính là thể hiện tâm trạng buồn thương, luyến nhớ bâng khuâng khi nghĩ về một khỏang t/g đầy ắp kỉ niệm. III/ KẾT LUẬN. Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùnh vĩ, dữ dội và mĩ lệ. Hình tượng người lính mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc.
nghị luận văn học tây tiến